TỬ THỦ CỔ THÀNH – Trích hồi ký Nguyễn Quang Vinh (Bút danh Vũ Chí Thành) – D3, E48, F320B QĐNDVN.

“…15.09.1972, trời vừa hửng sáng đã nghe tiếng ò ò của chiếc máy bay Trinh sát OV10. Nó quần đảo nghiêng ngó cả tiếng đồng hồ, xoi mói khắp xó xỉnh. Thỉnh thoảng nó rồ lên 1 tiếng rồi chổng mông bắn trái khói vào những chỗ nghi ngờ, chỉ điểm mục tiêu cho pháo và máy bay.

loading...

15826065_1317505518320364_7230746956196743011_n

Bỗng có 2 chiếc A37 bay tới. Chúng lượn 1 vòng, bất ngờ tăng độ cao rồi bổ nhào về hướng chúng tôi. Bốn quả bom đen trũi lao xuống. Tôi vội hô cho mọi người rút vào hầm. Chiếc hầm rung rinh chao đảo, hơi gió phần phật, rồi khói xám và mùi khét lẹt xộc vào. Tai chúng tôi gần như điếc đặc, bụi đất trên trần rơi xuống rào rào. Đoán rằng chúng đã bay xa, tôi lóp ngóp bò ra quan sát trận địa. Cách đó 50m, nơi chiếc hầm của 4 chiến sỹ Trung đoàn 95 trú ẩn, bây giờ chỉ còn là 1 hố bom sâu hoắm. Thịt xương của các anh đã tan vào cát bụi.

Chợt nghe từng tràng Đại liên M60 của địch bắn xối xả phía bên phải trận địa. Chỗ đó thuộc khu vực của Đại đội 1 E48, nơi có anh bạn Phạm Hùng Phong nhà ở phố Phan Bội Châu, trấn giữ. Tôi ngó sang thấy 4 chiến xa của địch, 2 M48 và 2 M113, đang yểm trợ một Đại đội Thủy quân lục chiến xông lên. Các chốt của ta bắt đầu bắn trả, tiếng súng AK và 12ly7 nổ giòn giã xen lẫn tiếng ùng oàng của B40/B41. Mấy quả B40/B41 đều trượt mục tiêu, nên 2 chiếc M113 tiến được đến gần công sự của ta và dùng súng phun lửa bắn dữ dội. Lại thêm pháo 90ly từ 2 xe M48 bắn thẳng vào các điểm chốt, nên sức kháng cự của ta yếu dần. Đại đội tôi dùng 12ly7 bắn chéo cánh sẻ sang hỗ trợ, nhưng cũng bị địch phát hiện ra, quay pháo từ 2 xe M48 bắn áp chế. Một lúc sau trận địa của Đại đội 1 bị địch tràn ngập, chỉ còn thấy những bóng áo rằn ri thấp thoáng. Mãi về sau này có dịp gặp anh Phạm Hùng Phong thì mới được nghe anh kể lại những xảy ra như sau:
“Rạng sáng 15/9/1972, 1 Đại đội Thủy quân lục chiến có sự yểm trợ của 2 xe Tank M48 và 2 xe M113 tấn công vào trận địa. Bên ta chỉ có 1 số chiến sỹ đang làm nhiệm vụ canh gác kịp nổ súng bắn trả. Nhưng tương quan lực lượng quá chênh lệch nên các ổ đề kháng của ta lần lượt bị dập tắt. Sau này theo anh Phong suy đoán, có thể đơn vị anh đã bị cấp trên thí quân, phải giữ chốt để bảo toàn cho Đại quân rút, vì chủ trương rút đã có từ đêm trước mà không ai báo cho các anh cả. Địch dùng súng phun lửa từ 2 xe M113 và các loại súng khác bắn xối xả vào cửa hầm, các anh không làm sao mà thoát ra được. Chúng bao vây quanh hầm và bắc loa kêu gọi đầu hàng. Các anh hội ý với nhau, nhất trí chống cự đến cùng, quyết không hàng địch. Nhưng phải tìm cách mở đường máu thoát ra bờ sông, chứ không thể ngồi như chuột trong hầm chờ địch hun khói. Nhân lúc địch ngừng bắn để gọi hàng, Chính trị viên Sỹ vọt ra ngoài cửa hầm bắn 1 loạt AK về phía địch. Hầu như ngay lập tức anh bị trúng mấy phát đạn, chỉ kịp hô: “Việt nam muôn năm! Bác Hồ muôn năm!” thì gục xuống. Một quả đạn M79 nổ toác trên ngực anh, kết thúc cuộc đời 1 chiến binh dũng cảm. Biết không thể nào thoát ra được, các anh đề nghị chiến sỹ Thông tin vô tuyến gọi pháo binh bắn thẳng lên nóc hầm của mình. Tuy nhiên chưa kịp thực hiện thì địch đã bắn lọt mấy quả đạn chống tăng M72 vào hầm. Các chiến sỹ ta bị thương vong gần hết. Anh Phong bị trúng 2 mảnh đạn, một mảnh vào đầu, một mảnh xuyên thái dương vào sau mắt phải, ngất đi. Do nằm cạnh cửa hầm, sau đó anh còn bị 2 phát đạn AR15 bắn thẳng vào cẳng chân.
Khi tỉnh dậy, anh thấy mình đang nằm trong một chiếc lều bạt của Thủy quân lục chiến. Mấy người lính nói giọng miền Nam và giọng Huế đang lao xao quanh anh. Một người lính đeo túi cứu thương cắm phập mũi kim vào vai anh, tiêm 1 liều chống uốn ván, rồi tiến hành băng bó các vết thương. Họ nói trong khi lục soát trận địa, thấy anh còn thoi thóp thở, họ đã khiêng anh về đây. Chắc quân ta tưởng anh đã chết nên khi rút đã bỏ lại. Sau này gia đình anh còn nhận được Giấy báo tử là anh đã hy sinh ở mặt trận phía Nam. Sau khi bị thẩm vấn qua loa, anh khai là Binh nhì thuộc Trung đoàn 48, F320B, họ đưa anh lên xe tải cùng 1 số tù binh khác và chở về Huế. Trong số tù binh đó anh nhìn thấy khoảng 10 đồng đội cùng C1 E48, có cả Đại đội trưởng Mai người Hải phòng, Trung đội trưởng Đông, và cậu Sơn cùng đơn vị huấn luyện…. Nhưng tất cả đều khai là lính mới, mới được bổ sung vào Thành đêm qua, và không ai biết ai cả. Thủy quân lục chiến chở anh vào nằm ở Bệnh viện Nguyễn Tri Phương 2 ngày, thấy vết thương khá nặng, họ lại đưa anh ra sân bay Phú bài tải thương về Đà nẵng.”

15781232_1312827708788145_2518034226210608376_n

loading...

Phía phải chúng tôi vừa tạm yên tiếng súng thì phía trái súng lại nổ dữ dội. Hàng tràng liên thanh không dứt, chêm vào tiếng ùng oàng của B40/41 và những tiếng “Cạch oành” chát chúa. Bên đó là phạm vi trách nhiệm của các chiến sỹ bộ đội địa phương tỉnh Quảng trị. Trong Thành cổ, ngoài các đơn vị chủ lực, còn có 2 Tiểu đoàn bộ đội địa phương là K3 và K8 cùng tham gia phòng thủ. Những người con của quê hương Vĩnh linh-Quảng trị này chiến đấu cực kỳ dũng cảm. Không phải ngẫu nhiên mà bên địch loan truyền câu chuyện về xác các Việt cộng mặc quần áo đen, chân bị xiềng vào những khẩu súng máy. Đúng là họ thường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, địch phải bước qua xác họ mới chiếm được chốt, nhưng chuyện bị xiềng vào súng thì không có. Vả lại ở đây tôi thấy họ được trang bị và ăn mặc y hệt chúng tôi. Ví dụ K3 “Tam đảo” thực chất là 1 Tiểu đoàn của Sư 312 được chuyển về cho Tỉnh đội Quảng trị. Tuy nhiên không phải ở đâu cũng vậy. Sau này tôi có dịp tiếp xúc với các đơn vị bộ đội địa phương khác, thì thấy nhiều người đội mũ tai bèo, mặc quần áo bà ba đen thật. Bộ bà ba của họ thường được may bằng vải Ny-lông Tet-rông mỏng, nhẹ nhưng rất bền và giặt mau khô. Đặc biệt họ trang bị hầu như toàn bằng vũ khí của Mỹ. Tôi có hỏi tại sao, thì họ trả lời là Bộ đội địa phương một thời gian dài phải tự cấp tự túc. Họ ít nhận được sự trợ giúp của hệ thống hậu cần và đường dây 559 như các đơn vị chủ lực, nên phải lấy súng đạn địch đánh địch là chính. Nhưng điều đó không hề ảnh hưởng đến lòng dũng cảm hầu như huyền thoại của họ. Cả Đại đội Thủy quân lục chiến sau vài đợt xung phong đã phải bỏ lại nhiều xác chết trước phòng tuyến, ôm đầu máu tháo chạy. Chúng điên cuồng gọi Không quân và Pháo binh bắn phá dữ dội vào trận địa của ta.

Vừa mở mắt ra sau đợt pháo, tôi chợt thấy 1 toán lính Thủy quân lục chiến ngay trước mặt. Khoảng 5-6 tên ngoi lên từ sau 1 đống gạch, người mặc áo giáp xanh rêu, đầu đội mũ sắt bọc vải rằn ri, tay nắm chặt những quả lựu đạn mỏ vịt. Lợi dụng lúc pháo kích bọn nó đã tiến lên, trong khi chúng tôi còn chúi đầu tránh đạn dưới các hố. Chúng chưa nhìn thấy tôi, vì không thể ngờ rằng trong đống đổ nát phủ đầy bụi đất cách đó vài mét lại có 1 họng súng và 1 đôi mắt đang nhìn chúng. Đến khi 1 tên nhận ra thì đã muộn. Lập tức theo bản năng tự vệ tôi xả 1 tràng AK vào đám mũ sắt. Những tiếng rú rùng rợn vang lên, những tấm thân đổ phịch ra sau đống gạch. Không biết mấy người chết, mấy người bị thương, chỉ nghe bên đối phương những tiếng la hoảng: “Đ. má, Việt cộng… Lùi lại tụi bay…Việt cộng…”.

Thế rồi lại pháo, lại bom, tưởng như bất tận. Giữa ban ngày mà địch tổ chức tấn công liên tiếp. Cứ mỗi lần bị đánh bật ra, thì chúng lại gọi phi pháo bắn phá. Các ổ hỏa lực của ta dần dần bị lộ, địch dùng pháo Tăng bắn thẳng vào những vị trí này.

Anh Dần bắn tỉa đã chết tự lúc nào. Một quả pháo nổ ngay cạnh hố chiến đấu của anh, thổi tung tất cả những tấm tôn ngụy trang. Không hiểu anh hy sinh vì mảnh pháo hay sức ép, máu từ mũi và mồm cũng dính bụi nhoe nhoét, mắt anh vẫn mở trừng trừng.

Sau mỗi lần đánh lui quân địch, Cao Dũng lại nhắc tôi nhồi thêm đạn vào các băng đạn và chuẩn bị 1 lô lựu đạn để trước mặt. Học tập anh, tôi cũng dùng lựu đạn là chính. Bên địch cũng vậy. Chúng thường lợi dụng lúc bom pháo đang bắn phá các chốt để bò lên tiếp cận, rồi ném lựu đạn vào hầm hào của chúng tôi.

Trời đã ngả chiều. Thêm cậu Hưng “Lê Văn Hưu“ bị mảnh pháo chém xả vào bả vai. Vết thương rất khó băng bó, tôi lúng túng quấn bao nhiêu băng mà vẫn bị tuột. Chúng tôi đưa cậu ấy vào hầm nằm cùng các thương binh khác. Lực lượng của Đại đội tôi đã bị tổn thất quá nửa. Cao Dũng đưa cho tôi 1 bao cơm sấy chiến lợi phẩm, rồi 2 đứa cùng nhai trệu trạo. Cả ngày nay chưa được hột cơm nào vào bụng.

Đêm đến. Pháo sáng địch bắn đầy trời. Lại một đợt tấn công mới của tụi Thủy quân lục chiến. Những dây đạn sáng lòe đủ mầu bay ngang dọc trong đêm, cộng thêm từng đợt vòi rồng lửa phun ra từ mấy xe M113 của địch. Chúng tôi bắn đến đỏ cả nòng súng, đạn dược vơi dần. Không hiểu bọn nó mà tấn công 1 đợt nữa thì lấy gì để chống trả đây? Chả lẽ dùng răng mà cắn vào cổ họng chúng như Anh hùng Lâm Úy à?. Chợt nghe 1 quả “Cạch oành” nổ ngay trên hố chiến đấu của Cao Dũng. Cảm thấy có chuyện chẳng lành, tôi vội bò sang chỗ anh. Một cảnh tượng kinh hoàng hiện ra trước mặt. Nửa đầu bên phải của Cao Dũng đã bay mất, máu và óc lầy nhầy tung tóe trên miệng hố. Tay và chân vẫn còn giật giật trong cơn giãy chết. Tôi ôm chầm lấy anh, miệng la lên thảng thốt: “Cao Dũng ơi !”, nhưng anh đã ra người thiên cổ mất rồi. Vĩnh và tôi lấy 1 tấm võng phủ lên xác anh, rồi vội vàng bò về hố chiến đấu của mình.

Ngồi trong hố mà nước mắt tôi chảy dàn dụa. Cao Dũng vẫn thường nói với tôi: “Nếu trận đầu cậu không chết, thì sẽ không bao giờ chết…”. Anh đã trải qua hàng chục trận, trên người không hề có một vết xước. Vậy mà bây giờ 1 thằng lính mới khù khờ như thì tôi vẫn ngồi đây, còn anh lại chết rồi. Đúng là trời thương kẻ ngù ngờ, thông minh không khỏi số giời…. Thương thay cho một người con anh dũng của phố Lò đúc, một Hec-tor của Thành cổ…. Anh đâu còn biết, giờ này chỉ có một người duy nhất, một cậu lính trẻ 18 tuổi, mặt mũi lấm lem quần áo bê bết, đang gục đầu bên khẩu súng khóc thương cho anh…

Đêm đã khuy lắm rồi. Tôi vẫn ngồi miên man chìm đắm trong những suy nghĩ về cái chết của Cao Dũng, không để ý đến sự im ắng đáng ngờ trên trận địa. Đại bác vẫn nổ cầm canh, pháo sáng vẫn hết quả này đến quả khác, nhưng tiếng súng bộ binh thì không. Chợt thấy anh Thiệu lom khom chạy tới. Nhìn thấy tôi anh nói: “Thành, sao các cậu còn chưa rút đi ? Các đơn vị khác người ta rút hết rồi…”. Tôi đáp: “Có ai nói gì với chúng em đâu…”. Chúng tôi vội thông báo cho mọi người trong hầm. Những thương binh nào còn vận động được thì tự nhằm hướng Dinh tỉnh trưởng mà đi, còn những người yếu thì chúng tôi phải dìu. Tất cả Tử sỹ đều bỏ lại. Trong bóng đêm chập chờn ánh hỏa châu, chúng tôi vội vã rút ra phía bờ sông…”

loading...
Loading...

Check Also

vo-nguyen-giap2

10 vị tướng kiệt xuất nhất mọi thời đại

Chân dung của 10 vị tướng thiên tài quân sự, những người đã làm thay …